Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Chuyê đề tháng 11

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Mơ (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:45' 25-11-2015
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Mơ (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:45' 25-11-2015
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO LỘC HÀ
TRƯờNG TIểU HọC MAI PHU
CHUYÊN Đề DạY TậP LàM VĂN LớP 4+5
THáNG 11 NĂM 2015
CHUYÊN ĐỀ TỔ CHỨC DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN LỚP 4 – 5
(Loại bài văn miêu tả)
Tập làm văn là môn học có tính chất thực hành toàn diện, tổng hợp và sáng tạo: là môn tổng hợp cao nhất của tất cả các phân môn Tiếng Việt như: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu… Trên cơ sở nắm lý thuyết học sinh sẽ thực hành và rèn luyện kỹ năng, hình thành phương pháp làm bài có tính khoa học với từng thể loại làm văn.
I. Đặt vấn đề
Là phân môn của Tiếng Việt, Tập làm văn có vai trò rất quan trọng trong việc trau dồi và rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh: Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Vì chẳng những giúp học sinh cảm thụ được văn bản (thơ, văn…) mà Tập làm văn còn làm nẩy sinh năng lực mới của các em: Năng lực sáng tạo văn bản nói, viết để làm công cụ tư duy, giao tiếp, học tập…góp phần phong phú thêm kiến thức về tiếng mẹ đẻ của học sinh
Phân môn Tập làm văn có vị trí vai trò như thế đòi hỏi người giáo viên vận dụng những phương pháp giảng dạy Tập làm văn phù hợp để đạt hiệu quả cao.
Vậy, để giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 4, 5 (loại bài văn miêu tả) đạt kết quả cao cần có những giải pháp nào? Trước tiên, cần tìm hiểu về thực trạng việc dạy và học Tập làm văn của giáo viên, học sinh.
II. Thực trạng
1 .Thuận lợi
- Học sinh đã có vốn từ nhất định được trang bị trên cơ sở của phân môn luyện từ và câu (mở rộng vốn từ qua các chủ điểm đã được học) cùng với vốn kinh nghiệm sống của bản thân.
- Bước đầu học sinh đã được làm quen với phép so sánh, nhân hóa ở các lớp 2, 3, từ láy ở lớp 4. Đó là những tiền đề thuận lợi để viết văn miêu tả.
2. Khó khăn
Kĩ năng giáo tiếp của các em còn hạn chế ảnh hưởng đến khả năng dùng từ, diễn đạt.
Các em chưa hiểu rõ đặc điểm cơ bản của văn miêu tả. Chưa phân biệt được kiểu bài văn miêu tả với các kiểu bài làm văn khác.
Vốn từ còn nghèo nàn, hạn hẹp, kĩ năng chọn từ ngữ, dùng từ đặt câu, viết đoạn văn diễn đạt còn hạn chế. Học sinh chưa biết sắp xếp ý, khi viết bố cục thiếu rõ ràng không quen sử dụng các biện pháp tu từ trong viết văn, cảm xúc không tự nhiên…
III. CÁC BiỆN PHÁP THỰC HiỆN:
1 . Rèn cho học sinh kỹ năng quan sát:
Quan sát theo trình tự từ xa tới gần, từ trong ra ngoài, từ tổng quát đến cụ thể. Ghi chép những điều đã quan sát được. Tổ chức cho học sinh quan sát cụ thể đối tượng tả. Có thể hướng dẫn quan sát theo nhiều hình thức: quan sát trực tiếp đối tượng (sân trường), quan sát ở nhà, ghi chép (ngôi nhà em đang ở), quan sát qua phim ảnh (cảnh biển buổi sáng)…
2. Chọn đề tài gần gũi, quen thuộc đối với học sinh:
Học sinh tiểu học việc hình dung để viết bài văn là rất khó. Các em phải được trực tiếp quan sát đối tượng cần miêu tả thì các em mới có thể hình dung lại mà viết. Đặc biệt là học sinh yếu, những đề tài tương đối xa lạ là điều cần tránh. Đối với học sinh yếu, vốn Tiếng việt còn hạn chế mà giáo viên lại yêu cầu học sinh hình dung, đặt câu, viết một bài văn miêu tả một đối tượng các em chưa nhìn thấy bao giờ thì đúng là điều quá sức các em.
Khi ra đề cho học sinh, người thầy luôn tạo cho các em quyền lựa chọn bằng cách ra nhiều đề (từ 2 đến 4 đề bài) để các đối tượng học sinh trong lớp đều có tự do chọn đề bài, tránh sự áp đặt. Ra đề cho học sinh làm bài kiểm tra viết, giáo viên chọn ba đề sau:
+ Tả một người bạn thân trong gia đình
+ Tả một người bạn trong lớp hoặc một người bạn gần nhà em.
+Tả một ca sĩ đang biểu diễn mà em thích.
- Với ba đề bài trên, các em học sinh có thể chọn đối tượng tả là một nhân vật quen thuộc, gần gũi. Nhưng với một vài học sinh khác, các em cũng có thể chọn ca sĩ đang biểu diễn với rất nhiều chi tiết sống động mà các em có dịp quan sát qua các em xem biểu diễn ca nhạc.
4. Hướng dẫn học sinh lập dàn ý:
Đây là một việc làm khó. Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh lập dàn ý trước khi làm một bài văn hoàn chỉnh. Có thể lập được dàn bài thì mới có thể tìm ý, sắp xếp ý, viết thành một bài văn mạch lạc, bố cục rõ ràng, ý văn trong sáng.
Ví dụ: Khi dạy bài Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật (sách giáo khoa lớp Bốn, tập hai, trang 112), sau khi giúp học sinh rút được nội dung ghi nhớ như trong sách giáo khoa, tôi sẽ chủ động bám vào nội dung phần ghi nhớ, dùng câu hỏi gợi ý, dẫn dắt cho các em nêu để xây dựng dàn bài chung cho bài văn miêu tả con vật:
Mở bài: Giới thiệu con vật sẽ tả.
- Để giới thiệu con vật sẽ tả, em cần giới thiệu những gì? (Tên con vật, nơi nó ở, lí do em thích nó,…)
Thân bài:
a) Tả hình dáng.
- Mỗi con vật thường đều có những bộ phận nào? (đầu: Mắt, mũi, miệng (mõm, mỏ), tai, …; mình: thân, lưng, bụng, ngực,…; chi: móng vuốt, cựa,…; đuôi, cánh, ….), ...
b) Tả thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con vật.
- Thói quen sinh hoạt là những thói quen nào? (ăn, ngủ, đùa giỡn, …)
- Những hoạt động chính của con vật là gì? Ví dụ? (con mèo: bắt chuột; con chó: giữ nhà, mừng chủ; …)
Kết luận: Nêu cảm nghĩ đối với con vật.
+ Cảm nghĩ của em đối với con vật có thể là gì? (yêu, thích, thấy thiếu vắng khi đi đâu về mà không trông thấy nó, …); Em làm gì để thể hiện tình cảm của em đối với nó? (chăm sóc, bảo vệ, …)
5. Sử dụng phương pháp luyện tập theo mẫu:
- Gợi ý cho học sinh khá, giỏi làm bài, trình bày câu văn, đoạn văn. Cả lớp theo dõi, nhận xét, giáo viên chốt lại và cho học sinh phát biểu. Nhưng điểm mấu chốt là giáo viên phải chú ý từng đối tượng học sinh, sửa cho từng em, động viên sự sáng tạo của các em dù là rất nhỏ.
- Dựa trên một đề văn cụ thể, giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng các kiến thức kỹ năng đã học về đề văn đó để làm nhiều bài khác nhau, nhất là đối tượng học sinh trung bình, yếu.
Hoặc là khi tả về cây GV cũng hướng cho học sinh khuôn mẫu để các em làm được các bài như
Cây che bóng mát, cây cổ thụ, cây ăn quả, cây hoa….
Tả cảnh: Cảnh hoàng hôn, cảnh bình minh, cảnh cánh đồng, cảnh biển…
Ví dụ: Học bài văn tả người thân, học sinh tả ông nội. Khi gặp đề văn yêu cầu tả người hàng xóm, học sinh có thể sử dụng thứ tự miêu tả, bố cục, các biện pháp nghệ thuật đã sử dụng ở đề bài trước để sử dụng làm đề bài thứ 2. Tất nhiên, giáo viên phải giúp học sinh tránh sự sao chép nguyên văn.
Phải hướng dẫn để học sinh tìm ra những nét đặc sắc của cảnh. Những nét đặc sắc đó giúp người đọc hình dung được cảnh vật cụ thể mà không lẫn lộn với cảnh vật khác.
6. Làm giàu vốn từ cho học sinh
Nếu học kiểu bài kể chuyện học sinh chỉ tái hiện lại nội dung câu chuyện đã nghe ,đã đọc là có thể đạt được yêu cầu cơ bản của đề bài thì văn miêu tả đòi hỏi phải có một vốn từ phong phú mới có thể làm bài. Thế giới quanh ta rất phong phú đa dạng và không ngừng biến đổi. Người viết văn không thể “ vẽ” được một cảnh, một người nếu khả năng người đó thiếu vốn từ, vốn sống.
- Làm giàu vốn từ cho học sinh có nghĩa là giúp các em nắm được một số từ gợi tả để có thể dung trong miêu tả. Ví dụ: Giáo viên yêu cầu học sinh tìm các từ ngữ gợi tả mái tóc (vàng hoe, đen nhánh, bạc phơ, hoe vàng, cháy nắng, óng ả, rễ tre, xoăn tít), khuôn mặt (bầu bĩnh, vuông chữ điền, trái xoan, khắc khổ), nước da (trắng trẻo, trắng hồng, ngăm ngăm, bánh mật, đen sạm), dáng người (nhỏ ngắn, gầy gò, đẫy đà, to khẻo, cao cao), nụ cười (khành khạch, mủm mỉm, ha hả ).
- Cho học sinh tìm từ bằng các hình thức như: quan sát thực tế (quan sát bạn), quan sát tranh ảnh, xem phim, đọc sách truyện, nhất là qua các phân môn của Tiếng việt hoặc các môn học khác. Ví dụ: luyện từ và câu bài từ đồng nghĩa, giáo viên gợi ý cho học sinh tìm các từ gợi tả đồng nghĩa như: bao la, mênh mông, bát ngát.
7. Giúp học sinh luyện viết câu
Trước hết, mọi học sinh phải viết được câu văn đúng ngữ pháp. Đây là yêu cầu cơ bản vì câu là đơn vị của lời nói.
- Biết dùng câu đúng, nhất là dấu chấm, dấu phẩy. Ngắt câu đúng sẽ diễn đạt rõ ràng, người đọc, người nghe dễ dàng tiếp nhận thông tin. Việc dạy cho học sinh sử dụng dấu câu đã được tiến hành từ các lớp dưới và phải được thường xuyên ôn luyện cho học sinh.
8. Rèn kỹ năng sắp xếp, diễn đạt ý
- Sau khi tìm ý, học sinh sẽ sắp xếp ý thành các đoạn mở bài, thân bài, kết bài.
- Giáo viên cần lưu ý cho học sinh mục đích của từng đoạn văn. Đoạn mở bài có tác dụng giới thiệu cho người đọc, người nghe biết xuất xứ nhân vật. Đoạn thân bài là bức tranh vẽ bằng lời hình dáng,đường nét, cử chỉ hoạt động, tính nết của nhân vật. Có chọn được những chi tiết đặc sắc, tiêu biểu ta mới vẽ được một nhân vật mang những cá tính riêng. Đoạn kết bài mang đậm dấu ấn cá nhân của người viết. Không thể có đoạn kết bài chung cho mọi học sinh.Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh nêu được cảm xúc tự nhiên, chân thật, không sáo rỗng kiểu như: Em rất yêu quý bạn.
Lưu ý khi dạy bài văn miêu tả:
Cần hướng dẫn học sinh tả theo trình tự không gian, thời gian,…
Sử dụng các biện pháp nghệ thuật: So sánh, nhân hoá, điệp từ….
Sử dụng các từ gọi tả, gợi cảm:
+ Phương pháp phân tích ngôn ngữ: Trên cơ sở các văn bản mẫu, học sinh khai thác, nhận biết kết cấu bài văn, trình tự miêu tả.
+ Phương pháp trực quan: Học sinh phải được quan sát đối tượng miêu tả trên thực tế ở lớp hoặc ở nhà, quan sát qua phim ảnh. Vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học, tạo điều kiện cho học sinh quan sát những đối tượng miêu tả không có ở địa phương để mở rộng hiểu biết cho các em.
Tóm lại để dạy cho học sinh khối 4+5 làm văn miêu tả giáo viên cần sử dụng các phương pháp:
+ Phương pháp rèn luyện theo mẫu: Dựa vào văn bản mẫu, học sinh tạo lập các văn bản mới theo nét riêng của các em .
+ Phương pháp thực hành giao tiếp: Tạo điều kiện cho mọi đối tượng học sinh được trình bày sản phẩm của mình, được tranh luận để tìm ra cái mới.
Truyền đạt kinh nghiệm dạy:
Một số ví dụ về dạy bài tả cảnh, tả người… lớp 5:
Một số ví dụ về dạy bài tả cây cối, con vật, đồ vật…lớp 4
TRƯờNG TIểU HọC MAI PHU
CHUYÊN Đề DạY TậP LàM VĂN LớP 4+5
THáNG 11 NĂM 2015
CHUYÊN ĐỀ TỔ CHỨC DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN LỚP 4 – 5
(Loại bài văn miêu tả)
Tập làm văn là môn học có tính chất thực hành toàn diện, tổng hợp và sáng tạo: là môn tổng hợp cao nhất của tất cả các phân môn Tiếng Việt như: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu… Trên cơ sở nắm lý thuyết học sinh sẽ thực hành và rèn luyện kỹ năng, hình thành phương pháp làm bài có tính khoa học với từng thể loại làm văn.
I. Đặt vấn đề
Là phân môn của Tiếng Việt, Tập làm văn có vai trò rất quan trọng trong việc trau dồi và rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh: Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Vì chẳng những giúp học sinh cảm thụ được văn bản (thơ, văn…) mà Tập làm văn còn làm nẩy sinh năng lực mới của các em: Năng lực sáng tạo văn bản nói, viết để làm công cụ tư duy, giao tiếp, học tập…góp phần phong phú thêm kiến thức về tiếng mẹ đẻ của học sinh
Phân môn Tập làm văn có vị trí vai trò như thế đòi hỏi người giáo viên vận dụng những phương pháp giảng dạy Tập làm văn phù hợp để đạt hiệu quả cao.
Vậy, để giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 4, 5 (loại bài văn miêu tả) đạt kết quả cao cần có những giải pháp nào? Trước tiên, cần tìm hiểu về thực trạng việc dạy và học Tập làm văn của giáo viên, học sinh.
II. Thực trạng
1 .Thuận lợi
- Học sinh đã có vốn từ nhất định được trang bị trên cơ sở của phân môn luyện từ và câu (mở rộng vốn từ qua các chủ điểm đã được học) cùng với vốn kinh nghiệm sống của bản thân.
- Bước đầu học sinh đã được làm quen với phép so sánh, nhân hóa ở các lớp 2, 3, từ láy ở lớp 4. Đó là những tiền đề thuận lợi để viết văn miêu tả.
2. Khó khăn
Kĩ năng giáo tiếp của các em còn hạn chế ảnh hưởng đến khả năng dùng từ, diễn đạt.
Các em chưa hiểu rõ đặc điểm cơ bản của văn miêu tả. Chưa phân biệt được kiểu bài văn miêu tả với các kiểu bài làm văn khác.
Vốn từ còn nghèo nàn, hạn hẹp, kĩ năng chọn từ ngữ, dùng từ đặt câu, viết đoạn văn diễn đạt còn hạn chế. Học sinh chưa biết sắp xếp ý, khi viết bố cục thiếu rõ ràng không quen sử dụng các biện pháp tu từ trong viết văn, cảm xúc không tự nhiên…
III. CÁC BiỆN PHÁP THỰC HiỆN:
1 . Rèn cho học sinh kỹ năng quan sát:
Quan sát theo trình tự từ xa tới gần, từ trong ra ngoài, từ tổng quát đến cụ thể. Ghi chép những điều đã quan sát được. Tổ chức cho học sinh quan sát cụ thể đối tượng tả. Có thể hướng dẫn quan sát theo nhiều hình thức: quan sát trực tiếp đối tượng (sân trường), quan sát ở nhà, ghi chép (ngôi nhà em đang ở), quan sát qua phim ảnh (cảnh biển buổi sáng)…
2. Chọn đề tài gần gũi, quen thuộc đối với học sinh:
Học sinh tiểu học việc hình dung để viết bài văn là rất khó. Các em phải được trực tiếp quan sát đối tượng cần miêu tả thì các em mới có thể hình dung lại mà viết. Đặc biệt là học sinh yếu, những đề tài tương đối xa lạ là điều cần tránh. Đối với học sinh yếu, vốn Tiếng việt còn hạn chế mà giáo viên lại yêu cầu học sinh hình dung, đặt câu, viết một bài văn miêu tả một đối tượng các em chưa nhìn thấy bao giờ thì đúng là điều quá sức các em.
Khi ra đề cho học sinh, người thầy luôn tạo cho các em quyền lựa chọn bằng cách ra nhiều đề (từ 2 đến 4 đề bài) để các đối tượng học sinh trong lớp đều có tự do chọn đề bài, tránh sự áp đặt. Ra đề cho học sinh làm bài kiểm tra viết, giáo viên chọn ba đề sau:
+ Tả một người bạn thân trong gia đình
+ Tả một người bạn trong lớp hoặc một người bạn gần nhà em.
+Tả một ca sĩ đang biểu diễn mà em thích.
- Với ba đề bài trên, các em học sinh có thể chọn đối tượng tả là một nhân vật quen thuộc, gần gũi. Nhưng với một vài học sinh khác, các em cũng có thể chọn ca sĩ đang biểu diễn với rất nhiều chi tiết sống động mà các em có dịp quan sát qua các em xem biểu diễn ca nhạc.
4. Hướng dẫn học sinh lập dàn ý:
Đây là một việc làm khó. Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh lập dàn ý trước khi làm một bài văn hoàn chỉnh. Có thể lập được dàn bài thì mới có thể tìm ý, sắp xếp ý, viết thành một bài văn mạch lạc, bố cục rõ ràng, ý văn trong sáng.
Ví dụ: Khi dạy bài Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật (sách giáo khoa lớp Bốn, tập hai, trang 112), sau khi giúp học sinh rút được nội dung ghi nhớ như trong sách giáo khoa, tôi sẽ chủ động bám vào nội dung phần ghi nhớ, dùng câu hỏi gợi ý, dẫn dắt cho các em nêu để xây dựng dàn bài chung cho bài văn miêu tả con vật:
Mở bài: Giới thiệu con vật sẽ tả.
- Để giới thiệu con vật sẽ tả, em cần giới thiệu những gì? (Tên con vật, nơi nó ở, lí do em thích nó,…)
Thân bài:
a) Tả hình dáng.
- Mỗi con vật thường đều có những bộ phận nào? (đầu: Mắt, mũi, miệng (mõm, mỏ), tai, …; mình: thân, lưng, bụng, ngực,…; chi: móng vuốt, cựa,…; đuôi, cánh, ….), ...
b) Tả thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con vật.
- Thói quen sinh hoạt là những thói quen nào? (ăn, ngủ, đùa giỡn, …)
- Những hoạt động chính của con vật là gì? Ví dụ? (con mèo: bắt chuột; con chó: giữ nhà, mừng chủ; …)
Kết luận: Nêu cảm nghĩ đối với con vật.
+ Cảm nghĩ của em đối với con vật có thể là gì? (yêu, thích, thấy thiếu vắng khi đi đâu về mà không trông thấy nó, …); Em làm gì để thể hiện tình cảm của em đối với nó? (chăm sóc, bảo vệ, …)
5. Sử dụng phương pháp luyện tập theo mẫu:
- Gợi ý cho học sinh khá, giỏi làm bài, trình bày câu văn, đoạn văn. Cả lớp theo dõi, nhận xét, giáo viên chốt lại và cho học sinh phát biểu. Nhưng điểm mấu chốt là giáo viên phải chú ý từng đối tượng học sinh, sửa cho từng em, động viên sự sáng tạo của các em dù là rất nhỏ.
- Dựa trên một đề văn cụ thể, giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng các kiến thức kỹ năng đã học về đề văn đó để làm nhiều bài khác nhau, nhất là đối tượng học sinh trung bình, yếu.
Hoặc là khi tả về cây GV cũng hướng cho học sinh khuôn mẫu để các em làm được các bài như
Cây che bóng mát, cây cổ thụ, cây ăn quả, cây hoa….
Tả cảnh: Cảnh hoàng hôn, cảnh bình minh, cảnh cánh đồng, cảnh biển…
Ví dụ: Học bài văn tả người thân, học sinh tả ông nội. Khi gặp đề văn yêu cầu tả người hàng xóm, học sinh có thể sử dụng thứ tự miêu tả, bố cục, các biện pháp nghệ thuật đã sử dụng ở đề bài trước để sử dụng làm đề bài thứ 2. Tất nhiên, giáo viên phải giúp học sinh tránh sự sao chép nguyên văn.
Phải hướng dẫn để học sinh tìm ra những nét đặc sắc của cảnh. Những nét đặc sắc đó giúp người đọc hình dung được cảnh vật cụ thể mà không lẫn lộn với cảnh vật khác.
6. Làm giàu vốn từ cho học sinh
Nếu học kiểu bài kể chuyện học sinh chỉ tái hiện lại nội dung câu chuyện đã nghe ,đã đọc là có thể đạt được yêu cầu cơ bản của đề bài thì văn miêu tả đòi hỏi phải có một vốn từ phong phú mới có thể làm bài. Thế giới quanh ta rất phong phú đa dạng và không ngừng biến đổi. Người viết văn không thể “ vẽ” được một cảnh, một người nếu khả năng người đó thiếu vốn từ, vốn sống.
- Làm giàu vốn từ cho học sinh có nghĩa là giúp các em nắm được một số từ gợi tả để có thể dung trong miêu tả. Ví dụ: Giáo viên yêu cầu học sinh tìm các từ ngữ gợi tả mái tóc (vàng hoe, đen nhánh, bạc phơ, hoe vàng, cháy nắng, óng ả, rễ tre, xoăn tít), khuôn mặt (bầu bĩnh, vuông chữ điền, trái xoan, khắc khổ), nước da (trắng trẻo, trắng hồng, ngăm ngăm, bánh mật, đen sạm), dáng người (nhỏ ngắn, gầy gò, đẫy đà, to khẻo, cao cao), nụ cười (khành khạch, mủm mỉm, ha hả ).
- Cho học sinh tìm từ bằng các hình thức như: quan sát thực tế (quan sát bạn), quan sát tranh ảnh, xem phim, đọc sách truyện, nhất là qua các phân môn của Tiếng việt hoặc các môn học khác. Ví dụ: luyện từ và câu bài từ đồng nghĩa, giáo viên gợi ý cho học sinh tìm các từ gợi tả đồng nghĩa như: bao la, mênh mông, bát ngát.
7. Giúp học sinh luyện viết câu
Trước hết, mọi học sinh phải viết được câu văn đúng ngữ pháp. Đây là yêu cầu cơ bản vì câu là đơn vị của lời nói.
- Biết dùng câu đúng, nhất là dấu chấm, dấu phẩy. Ngắt câu đúng sẽ diễn đạt rõ ràng, người đọc, người nghe dễ dàng tiếp nhận thông tin. Việc dạy cho học sinh sử dụng dấu câu đã được tiến hành từ các lớp dưới và phải được thường xuyên ôn luyện cho học sinh.
8. Rèn kỹ năng sắp xếp, diễn đạt ý
- Sau khi tìm ý, học sinh sẽ sắp xếp ý thành các đoạn mở bài, thân bài, kết bài.
- Giáo viên cần lưu ý cho học sinh mục đích của từng đoạn văn. Đoạn mở bài có tác dụng giới thiệu cho người đọc, người nghe biết xuất xứ nhân vật. Đoạn thân bài là bức tranh vẽ bằng lời hình dáng,đường nét, cử chỉ hoạt động, tính nết của nhân vật. Có chọn được những chi tiết đặc sắc, tiêu biểu ta mới vẽ được một nhân vật mang những cá tính riêng. Đoạn kết bài mang đậm dấu ấn cá nhân của người viết. Không thể có đoạn kết bài chung cho mọi học sinh.Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh nêu được cảm xúc tự nhiên, chân thật, không sáo rỗng kiểu như: Em rất yêu quý bạn.
Lưu ý khi dạy bài văn miêu tả:
Cần hướng dẫn học sinh tả theo trình tự không gian, thời gian,…
Sử dụng các biện pháp nghệ thuật: So sánh, nhân hoá, điệp từ….
Sử dụng các từ gọi tả, gợi cảm:
+ Phương pháp phân tích ngôn ngữ: Trên cơ sở các văn bản mẫu, học sinh khai thác, nhận biết kết cấu bài văn, trình tự miêu tả.
+ Phương pháp trực quan: Học sinh phải được quan sát đối tượng miêu tả trên thực tế ở lớp hoặc ở nhà, quan sát qua phim ảnh. Vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học, tạo điều kiện cho học sinh quan sát những đối tượng miêu tả không có ở địa phương để mở rộng hiểu biết cho các em.
Tóm lại để dạy cho học sinh khối 4+5 làm văn miêu tả giáo viên cần sử dụng các phương pháp:
+ Phương pháp rèn luyện theo mẫu: Dựa vào văn bản mẫu, học sinh tạo lập các văn bản mới theo nét riêng của các em .
+ Phương pháp thực hành giao tiếp: Tạo điều kiện cho mọi đối tượng học sinh được trình bày sản phẩm của mình, được tranh luận để tìm ra cái mới.
Truyền đạt kinh nghiệm dạy:
Một số ví dụ về dạy bài tả cảnh, tả người… lớp 5:
Một số ví dụ về dạy bài tả cây cối, con vật, đồ vật…lớp 4
 
TRUYỆN CƯỜI
Xem truyện cười






Các ý kiến mới nhất